11/08/2014

HẠ ĐÌNH NGUYÊN VÀ NGUYỄN THỊ TỪ HUY BÀN VỀ "CẦU HIỀN VÀ SỬ DỤNG NĂNG LỰC TRÍ TUỆ"



Hạ Đình Nguyên
LỜI  NÓI LEO (10-8):  Trong khi Từ Huy ở giữa Paris, nhìn phố xá ngổn ngang chồng lên nhau mà thấy “99 ngọn Hồng Lĩnh chạy dài về tương lai”, thì tôi ở Sài gòn, đọc bài của Từ Huy mà nhìn thấy ngổn ngang 16 khuôn mặt chồng lên nhau, cũng ngổn ngang thế, mà rất hồi họp về tương lai.

Thời sự đang ngồn ngộn những thông tin căng thẳng, cũng xin tạm lắng lòng theo Từ Huy mà quay về tham khảo trí huệ của tiền nhân, qua bài viết nhiều gợi mở và bóng gió.

Tuy nhiên bài viết đã gợi nên vài ‘mệnh đề’ thời đại, mà chỉ là thời đại khép kín của riêng Việt Nam, tôi có một chút đối chiếu tự nẩy sinh.

- Lịch sử vẫn thường gọi Nguyễn Huệ là bậc anh hùng “áo vải”, ý nói nguồn gốc xuất thân chẳng phải là danh gia thế phiệt gì, mà là trong cõi nông dân - người thường. Thế mà ông đã hội tụ được nhiều phẩm chất hiếm có của một bậc đại trí. Chỉ thông qua sự “mời mọc”- gọi là cầu hiền - của Quang Trung đối với La-Sơn Phu-Tử Nguyễn Thiếp, mà Từ Huy đã trình bày, cũng đã bộc lộ tinh thần “tôn trọng và biết sử dụng năng lực trí tuệ” của Nguyễn Huệ đặc sắc ra sao, và để lại ấn tượng rất điển hình cho hậu thế.
- Phong trào Cách mạng theo chủ nghĩa Cộng sản của Mao Trạch Đông, và những vùng chịu ảnh hưởng của Mao, thì đề cao vai trò của nông dân (hân hạnh thay cho Nguyễn Huệ !) thông qua cơ bắp và đấu tố giai cấp, phủ định vai trò của cá nhân, đặc biệt là tầng lớp trí thức, và xem “sự nghiệp Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
Thế thì Nguyễn Huệ đã quan niệm thế nào về “vai trò cá nhân” và “sự nghiệp quần chúng” khi 3 lần đi ‘năn nỉ’ Nguyễn Thiếp ?
Xét về mặt ‘sự nghiệp của quần chúng’ là không sai, Nguyễn Huệ cũng làm thế, cho nên từ một một ngọn lửa nhỏ ở một vùng núi non hẻo lánh - Quy Nhơn-Bình Định – đã lan ra cả nước, thành một một đoàn binh hùng hậu, được sự hưởng ứng của toàn dân, và… ‘bách chiến bách thắng’. Chỉ có một điều, ông chưa kịp học chủ nghĩa Mác-Lê-Mao ( vì chưa có), nên ông đã không “triệt hạ trí thức”, nhưng lại đi tôn trọng cá nhân – gọi là hiền tài – để hơn 3 lần cầu cạnh La-Sơn Phu-tử. Và, là vua, bị từ chối 3 lần mà cũng không ‘tự ái’ nữa kìa ! Về sự tự ái, sực nhớ câu chuyện thật ngắn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi chạm phải một câu nói “ngược chiều” của một trí thức Sài gòn, ông đã khó ở, suốt đêm trằn trọc. Sáng hôm sau, ông đã nhanh chóng tiêu hóa được cái ‘kiêu ngạo cọng sản’, để sau đó với thái độ bình tỉnh và cởi mở, ông tiếp tục các cuộc giao lưu, đối thoại với giới trí thức Sài gòn càng sâu rộng, đã làm cho ông có một tầm nhìn mới, đi trước mấy lớp đồng chí của mình, và cũng hứng lấy nhiều khó khăn. Nhưng Ông đã lưu lại một hình ảnh tốt và quý mến trong nhân dân.

Làm lơ, hay là coi thường trí thức, phủ định vai trò cá nhân, nhưng văn hóa “vô sản” lại đề cao lãnh tụ, đến mức thành án, gọi tên là chủ nghĩa “tôn sùng cá nhân”. Nhưng sẽ không phạm tội ‘đề cao cá nhân’, nếu cá nhân ấy nằm trong khung được xác định bởi ‘chủ nghĩa xã hội’, một cái biện chứng rất là khó hiểu.
Công bằng mà nói, chủ nghĩa ‘tôn sùng cá nhân’ nay cũng đã phai mờ chút ít. Vì quần chúng vô danh vô phận kia, cũng tự hiểu ra để phân biệt, ai là người đáng tôn, và ai là kẻ đáng ‘sùng’ (theo nghĩa là giận dữ). Gọi là phai mờ chút ít, vì rằng hãy còn nhiều nhân vật vẫn thích ‘tự đồng hóa mình’ với chiếc ghế. Đúng thế, nếu đã có chức vụ thì đương nhiên – dù ai ‘sùng’ mình thì mặc kệ -  mình tự ‘tôn sùng’ mình, là đủ (sùng nầy là kính)! Y như rằng, hể đứng trên bục, thì phải phát ra lời giáo huấn ! Một số ‘cán bộ Đoàn’ ngày nay cũng thế, giống như ‘Tủ Lạnh’của mình. Họ được giao trọng trách là ‘giáo dục thanh niên’, tức là ‘dạy’ cho bạn bè mình cùng lứa như nhau, miễn là nắm chắc trong tay ‘lập trường’, là thành ‘Thầy’, hành đạo hồn nhiên và ngang nhiên như chiếc giàn khoan HD981 xông vào lãnh hải người khác.

Cái lỗi của vua Quang Trung là dám đề cao La-Sơn Phu-Tử, mà ông cụ nầy thì không dính dáng gì đến CNXH.

Tôi lấy hai hệ thống văn hóa nầy mà đối chiếu, quả thật chẳng đâu vào đâu. Thế mà bạn Từ Huy đã hoài công thức đêm thức hôm tra cứu hàng đống tư liệu mà viết,  gợi nhiều ý, mà tôi thích nhất là đoạn nầy :
“…cho đến tận mãi về sau, khi Lê Chiêu Thống « rước voi về giày mả tổ », khiến cho cụ không còn có thể đặt lòng trung vào nhà Lê được nữa, đồng thời cụ cũng nể Nguyễn Huệ, người đã bộc lộ những phẩm chất không chỉ của một tài năng quân sự, một dũng tướng trăm trận trăm thắng, mà còn là của một người trọng tài, trọng kiến thức, độ lượng và giỏi bang giao”.
Tôi chờ đọc tiếp phần 2, như Từ Huy đã hứa : “..sẽ quay trở lại với thực trạng sử dụng năng lực trí tuệ của chúng ta hiện nay.”
Xin lổi Từ Huy, tôi chỉ muốn giới thiệu bài viết hay, lại bị lạc đề mà dông dài, nên xin nhận là ‘lời nói leo’ vậy ./. hadinhnguyen

Cầu hiền và sử dụng năng lực trí tuệ                  (phần 1)

 TS Nguyễn Thị Từ Huy

Thu, 08/07/2014 - 16:57 — nguyenthituhuy
Một trong những cuốn sách tôi đọc trong những ngày đầu tiên tới Paris là cuốn La-Sơn Phu-Tử của Hoàng Xuân Hãn, viết về Nguyễn Thiếp – La-sơn Phu-tử, nhân vật lịch sử của vùng La-sơn xưa, tức là Can-lộc ngày nay.
Tôi đọc Hoàng Xuân Hãn và gặp lại tâm tình của ba tôi. Trong từng trang sách, tôi thấy lại nỗi niềm của ba tôi, và như nghe thấy giọng ông, mà tôi vẫn lưu giữ trong ký ức kể từ hồi niên thiếu, kể những câu chuyện về lịch sử và địa danh xứ Nghệ.
Đọc sách Hoàng Xuân Hãn, tôi nhìn thấy trước mắt mình, xếp chồng lên những tòa nhà trên các đường phố Paris, hình ảnh 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, tiếp nối nhau chạy dài về tương lai, và những khúc sông lúc hiện lúc ẩn, khuất sau những bãi bồi hay những xóm làng, có những nơi vẫn còn rất nghèo đói. « Nói tóm lại, triền sông Lam là một nơi rất nhiều thắng-cảnh. Đứng chỗ nào, chung quanh cũng trông thấy núi. Mà ở núi nào cũng đầy dấu-tích xưa : đền cũ, thành xưa, bãi chiến-trường, nơi ẩn-dật. Nhà La-sơn phu-tử ở về phương nam, bên cạnh núi Nhạc-sạn, phía tây-nam núi Hồng-lĩnh. » (La-sơn Phu-tử (LSPT), Hoàng Xuân Hãn, nxb Minh Tân, Paris 1952, tr.45. Từ đây trở về sau, những trích đoạn trong sách này sẽ được chú thích bằng số trang đặt trong ngoặc đơn. Chúng tôi cũng giữ nguyên cách viết chính tả có ngang nối của Hoàng Xuân Hãn).
Có những cuốn sách như vậy. Chúng không chỉ tường trình sự việc, mà sự việc là nơi hợp lưu giữa nỗi niềm của nhân vật và nỗi niềm của tác giả. Những cuốn sách như vậy có thể làm lay động và đánh thức cả cảm xúc lẫn suy tư ở độc giả. Những cuốn sách đó dù không có lời hô hào nào, nhưng tiếng gọi của chúng thâm sâu và da diết.
Đó là điều mà một cuốn sách có thể làm : kết nối các không gian, kết nối các thời đại (quá khứ - hiện tại và có thể cả tương lai), và kết nối nỗi niềm, tâm tình của những con người ở các không gian và các thời đại khác nhau ấy.
Khởi đi từ một tâm tình rất riêng tư, cuốn sách này đã khiến tôi phải suy nghĩ về những câu chuyện chung của chúng ta, cả trong quá khứ lẫn hiện nay. Trong bài này, tôi sẽ đề cập tới một vấn đề : cầu hiền và sử dụng năng lực trí tuệ.
Quang Trung đã cầu hiền như thế nào…
Trong cuốn La-sơn Phu-tử, Hoàng Xuân Hãn thuật lại thái độ hết sức đặc biệt của Quang Trung đối với Nguyễn Thiếp, một nho sĩ đậu hương giải từ lúc còn rất trẻ, sau đó qua vòng thi Hội nhưng từ chối thi tiến sĩ, có ra làm quan nhưng rồi chọn cách hành xử xuất thế, từ quan vào núi ẩn dật. Tính chất đặc biệt thể hiện trong việc Nguyễn Huệ ba lần viết thư mời Nguyễn Thiếp ra làm việc và đều bị từ chối cả ba lần, nhưng vẫn tiếp tục hội kiến và trọng dụng La-sơn Phu-tử, bất chấp việc ông già ở ẩn đó về căn bản là không chịu hợp tác với Nguyễn Huệ, vì sự trung thành với nhà Lê, cho đến tận mãi về sau, khi Lê Chiêu Thống « rước voi về giày mả tổ », khiến cho cụ không còn có thể đặt lòng trung vào nhà Lê được nữa, đồng thời cụ cũng nể Nguyễn Huệ, người đã bộc lộ những phẩm chất không chỉ của một tài năng quân sự, một dũng tướng trăm trận trăm thắng, mà còn là của một người trọng tài, trọng kiến thức, độ lượng và giỏi bang giao.
Lần thứ nhất Nguyễn Huệ viết thư mời Nguyễn Thiếp là vào tháng 12 năm 1786, năm Cảnh Hưng thứ 47, lúc đó ông chưa lên ngôi vua, bức thư ký tên An-nam Đại-nguyên-súy. La-sơn Phu-tử trả lại thư cùng lễ vật. Hoàng Xuân Hãn bình luận : « cụ chối một cách đường-hoàng, lời-lẽ rất khôn khéo. […] ngôn-từ rất đứng-đắn, không tỏ ý gì sợ-hãi cả. […] Thực ra cụ chỉ một lòng trung với vua Lê, còn Huệ đối với cụ chỉ là một anh tù-trưởng ở chỗ biên thùy mà thôi. Nên cụ không những trả lễ vật mà lại còn trả cả thư mời nữa, để tỏ ý cùng Huệ rằng cụ hoàn-toàn không chịu giao-thiệp với Huệ ». (101)
Nguyễn Huệ chẳng những không tự ái, không trừng phạt, mà kiên trì tiếp tục mời Nguyễn Thiếp hợp tác. Một năm sau, vào tháng 10 năm 1787, lúc bấy giờ Nguyễn Huệ, với danh nghĩa Đại-nguyên-súy Tống-quốc Chính-bình-vương, viết bức thư thứ hai cho La-sơn Phu-tử. Lời lẽ hết sức trọng thị, và Nguyễn Huệ không mời Nguyễn Thiếp ra giúp mình, mà ra giúp sinh-dân để thực hiện đạo-nghĩa. La-sơn Phu-tử trả lại y nguyên các lễ vật hậu hĩnh của Nguyễn Huệ và lấy lí do sức khỏe yếu để từ chối, nhưng hứa hẹn một khả năng : « Để ngày khác, đứng ngoài mà làm một người cố-vấn dự-bị » (104)
Hoàng Xuân Hãn nhận xét về thái độ và cách ứng xử của Nguyễn Huệ : « Huệ không bằng-lòng, nhưng lại càng thêm trọng cụ, và muốn mời cụ ra cho kỳ được. Cho nên mười một ngày sau khi cụ viết thư trên, nghĩa là lập-tức sau khi nhận được thư ấy ở Phú-xuân, Chính-bình-vương bảo viết thư cố nài cụ. Thư này dài hơn các thư trước. Vương lại sai quan Hình-bộ thượng-thư Thuyên-quang-hầu Hồ Công-Thuyên mang tới núi. Thế mới biết lòng khẩn khoản của Chính-bình-vương là thế nào. » (105).
Trong bức thư thứ ba này, Nguyễn Huệ có những lời thống thiết như sau : « Kẻ danh-thế thỉnh-thoảng ra đời. Quả-đức hằng nghĩ và mơ-tưởng đến. Trong mười lăm năm đến bây-giờ, chưa hề phút nào giám quên. Không ngờ nay, trông lên thành Lục-niên có người tài đương ở đó. Ấy là trời để dành Phu-tử cho quả-đức vậy. Tuy Phu-tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu-tử nỡ ngơ-lảng được sao ? Lòng cầu hiền, quả-đức há giám sinh bụng đầu siêng sau lảng đâu » (107). Trước những lời lẽ tha thiết đó, La-sơn Phu-tử tiếp tục từ chối một lần nữa, tiếc là không còn giữ được bức thư phúc đáp của ông.
Liên tục bị từ chối, Nguyễn Huệ chẳng những không giận mà một năm sau đó, tháng 3 năm 1788, trên đường hành quân ra Thăng Long, khi dừng chân tại Phù Thạch, đã viết thư mời La-sơn Phu-tử tới hội kiến. Trong cuộc gặp gỡ trực tiếp này, Nguyễn Thiếp đã có cơ hội để nói ra một cách thẳng thắn lý do không hợp tác với Nguyễn Huệ. Theo tường thuật của Hoàng Xuân Hãn, các sách lịch sử chép lại cuộc đối thoại giữa hai nhân vật này có khác nhau về lời lẽ, nhưng ý rất thống nhất : Khi Nguyễn Huệ hỏi lý do vì sao mời ba lần mà không nhận lời, Nguyễn Thiếp nói thẳng rằng nếu Nguyễn Huệ phù Lê thì là anh hùng, còn nếu giả nhân nghĩa để lấy tiếng thì là gian hùng. Bị mắng là gian hùng mà Nguyễn Huệ lấy làm sợ mà trọng đãi cụ hơn. Đồng thời lệnh cho La-sơn Phu-tử xem đất để lập kinh đô ở Phù Thạch, Nghệ An, nhưng cả lần này Nguyễn Thiếp cũng từ chối, ông lần lữa, trì hoãn không chịu xem. Vì thế, việc lập kinh đô ở Phù Thạch không thành.
Ngày 29 tháng 11 năm 1788, trên đường tiến quân ra Thăng Long diệt quân Thanh, Nguyễn Huệ có cuộc hội kiến thứ hai với Nguyễn Thiếp. Quang Trung hỏi ông kế đánh giặc, Nguyễn Thiếp hiến kế : « quân quý thần tốc ». Sách Lê quí Kỷ sự chép : « Ngày 29, Huệ đến Nghệ-an, nghỉ binh. Triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương-lược. Thiếp nói : « Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình-hình khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ thế nào. Vả nó có bụng khinh-địch. Nên đánh gấp đi thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì-hoãn một chút thì khó lòng mà được nó. » (130). Nguyễn Huệ hành quân thần tốc, ngày 20 tháng chạp đến Tam Điệp, ngày 30 tháng chạp Quang Trung hạ lệnh xuất quân, hẹn quân sĩ sẽ ăn tết ở Thăng Long ngày mồng 7, nhưng ngày mồng 5 quân Tây Sơn đã giành chiến thắng ở kinh thành, sớm hơn cả dự định. Về sau trong một bức thư gửi Nguyễn Thiếp, Quang Trung có viết : « Trẫm ba lần xa-giá Bắc-thành, Tiên-sinh chịu ra bàn chuyện thiên-hạ. Người xưa bảo rằng : « Một lời nói mà dấy nổi cơ-đồ ». Lời Tiên-sinh hẳn có thế thật ». (131) Theo nhận định của Hoàng Xuân Hãn, phương kế của Nguyễn Thiếp đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt của Nguyễn Huệ.
Về sau, nể tấm lòng trọng hiền tài của Nguyễn Huệ, La-sơn Phu-tử nhận lời làm viện trưởng viện Sùng chính, nhưng làm việc tại nơi cụ ở ẩn, tại núi Thiên Nhận (Nghệ An). Nhiệm vụ của Sùng chính viện là dịch sách Tàu sang tiếng ta, để phục vụ cho việc dạy học. Nguyễn Huệ lập Sùng chính viện có lẽ để thực hiện một trong nhũng lời khuyên của Nguyễn Thiếp dành cho ông, trong cương vị là vua một nước, liên quan đến việc học : tránh học từ chương (học từ chương là học để làm quan, cầu danh lợi, chỉ dẫn đến “Chúa tầm thường, tôi nịnh hót. Quốc phá gia vong”), mà phải có chính-học, nghĩa là « học cho rộng rồi ước-lược cho gọn, theo điều học biết mà làm. Họa may nhân-tài mới có thể thành-tựu ; nhà nước nhờ đó mà vững yên » (Trích bản tấu của Nguyễn Thiếp gửi Quang Trung, ngày mười…(không rõ ngày mười mấy) tháng 8 năm 1791, LSPT, tr.146).
Và trong tờ chiếu của Quang Trung về việc lập Sùng chính viện, nhà vua viết: “Trẫm định đặt Sùng-chính thư-viện ở Vĩnh-kinh, tại núi Nam-hoa; ban cho ông làm chức Sùng-chính-viện viện-trưởng. Cho ông hiệu La-sơn Tiên-sinh và giao cho ông chuyên coi việc dạy. Nhất định theo phép học Chu-tử, khiến cho nhân-tài có thể thành-tựu, phong-tục trở lại tốt đẹp” (Trích tờ Chiếu của Quang Trung, ngày 20 tháng 8 năm 1791, LSPT, tr.148). Lời lẽ của Quang Trung ở đây có lặp lại đúng lời của Nguyễn Thiếp trong bản tấu. Ta thấy, Quang Trung ra chiếu lập Sùng chính viện chưa đến mười ngày sau khi Nguyễn Thiếp dâng tấu. Nguyễn Huệ làm gì cũng thần tốc. Về việc Quang Trung giao hẹn La-sơn Phu-tử trong vòng ba tháng phải dịch xong ba kinh “Thi, Thư, Dịch”, Hoàng Xuân Hãn bình luận: “Đó chắc vì Quang-trung muốn đọc gấp. Quang-trung lại bảo dịch gấp kinh “Thi” trước để mình xem. Thế tỏ rằng ông đại-tướng không chỉ thượng-võ, mà trong sự hiếu-học cũng như trong mọi việc khác, Quang-trung muốn chóng thành công” (153)
Sùng chính viện được mở cũng có thể xem như là một cách Nguyễn Huệ tiếp thu lời khuyên của Nguyễn Thiếp về vấn đề Quân đức (đức của vua). Trong bản tấu trên đây, Nguyễn Thiếp đưa ra ba lời khuyên trọng yếu trong đó thứ nhất là: “1) Một là bàn về quân-đức. Vua dốc một lòng tu đức, ấy là gốc của vạn sự. [...] Từ xưa thánh hiền chưa có ai không bởi sự học mà có đức”.(144) Như vậy La-sơn Phu-tử quan niệm rằng đạo đức chỉ có thể xây dựng trên cơ sở học vấn. Phải chăng đấy là lý do khiến Nguyễn Huệ cấp tốc cho xây dựng Sùng chính viện, cho dịch sách Tàu, và nôn nóng muốn đọc kinh thư, muốn xây dựng học vấn của bản thân và phổ biến học vấn cho con dân của mình?
Câu hỏi đặt ra là : Vì sao Nguyễn Huệ bị từ chối nhiều lần mà vẫn đặt lòng tin vào Nguyễn Thiếp, vẫn tin rằng ông ấy thực bụng giúp mình đánh quân Thanh và giúp mình lãnh đạo quốc gia? Nếu không tin đã không hỏi, mà có hỏi thì cũng sẽ không nghe theo.
Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ quay trở lại với thực trạng sử dụng năng lực trí tuệ của chúng ta hiện nay. Đôi khi thực tế đương đại lại có thể giúp chúng ta tìm thấy câu trả lời cho những vấn đề trong quá khứ.(Còn tiếp)
Paris, ngày 4/8/2014 Nguyễn Thị Từ Huy.

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire